Showing posts with label Tết Nguyên Đán. Show all posts
Showing posts with label Tết Nguyên Đán. Show all posts

Wednesday, April 20, 2016

Ý nghĩa của đèn, nến, hương, mâm ngủ quả trên bàn thờ.

Bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất, Trang trọng nhất trên bàn thờ là hình ảnh hay bài vị các bậc tiền nhân và người nhà đã mất. Trên bàn thờ thường phải có: Hai cây đèn hay nến (đèn cầy), bát hương (nhang). Ánh sáng đèn nến tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng; Đốm sáng hương nhang tượng trưng cho tinh tú, khói hương bay lên làm chiếc cầu liên kết âm dương để các cụ đi v. Còn có 3 li nước nhỏ để người khuất về được thanh tịnh và không bị khát. Bản thờ Tết còn phải có mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả là một mâm trái cây có năm (ngũ) loại trái cây (quả) khác nhau, tượng trưng cho ngũ hành kim mộc thuỷ hoả thổ ứng với mệnh con người.
(Ảnh: Bàn thờ ngày tết)
 Số loại trái cây phải là lẻ, số lượng trái cây trong mâm ngũ quả cũng phải lẻ, vì số lẻ thuộc Dương, tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi.
Tuy nhiên, đó chỉ là quy ước, “ngũ” dn dần không còn là số 5 cụ thể nữa, mà chuyển thành một khái niệm chung chung về số nhiều. Có xếp bao nhiêu loại trái cây vào đó cũng gọi là mâm ngũ quả, có khi càng nhiều loại, nhiều màu càng tốt, nhìn đẹp và mang ước muốn trù phú, số trái cây cũng không nhất thiết phải là lẽ, chỉ cần đẹp. Nhưng nhiều người kỹ lưỡng vẫn chọn số trái cây lẻ, như buồng chuối xanh quả là tốt nhất. Trái cây non bị coi là nhạt (tình), chín quá bị coi là cuối, nẫu, nên ngũ quả thường chọn trái vừa phải, cứng cáp, để được lâu trên bàn thờ, ít nhất cho đến hết mùng 7 Tết.
Mâm ngũ quả của người miền Bắc và Trung chủ yếu có chuối, bưởi, đào, hồng, quýt, nhưng cũng có thể dùng các loại trái khác như quất, lê, hồng xiêm (lê-ki-ma), táo, na (mãng cầu), không quá khắt khe và hầu như tất cả các loại quả lành đều có thể bày được miễn là nhiều màu sắc cho thêm đậm đà không khí Tết.
Mâm ngũ quả của người Nam Bộ từ rất lâu đă thuận theo một cách chơi chữ rất ý vị chất Nam Bộ, chỉ cần 4 loại trái: măng cầu (na), dừa, đu đủ, xoài. Mãng cầu chọn lấy chừ “cầu”, dừa tiếng Nam phát âm như vừa, ngụ ý là “vừa”, đu đủ hiểu là “đủ”, xoài nói như “xài”, ghép thành “cầu vừa đủ xài”, một năm vừa đủ xài là ổn. Nếu thấy cần thêm thì xếp thêm mấy trái sung, thành ‘‘cầu vừa đủ xài sung”, nghe hơi lạ, nhưng sung là sung túc và sung sức cho một năm mới.
(Ảnh: Mâm ngủ quả)
 Sau này, người Nam Bộ còn làm thêm hình các con vật cầm tinh năm mới như tý, sửu, dn... bng các loại trái cây nhiu màu sc, rt công phu. Các hình đượe ghép bằng hàng trăm hay hàng ngàn vỏ và trái. Đặc biệt, dù phụng (phượng) không có trong 12 con giáp nhưng hình phụng cũng được làm để cân đối với rồng (long - phụng).
 Người Việt Nam chuộng học hành, thích thơ văn, trọng và tín chữ nghĩa nên vào Tết càng chú tâm hơn. Chữ nghĩa trong Tết có câu đối và chữ. Ngày trước dùng chữ Hán, nạy dùng thêm chữ quôc ngữ.
(Nguồn: Kiến thức phổ thông)

Tuesday, April 19, 2016

Lên nêu, khai hạ và sự tích Cây nêu ngày Tết

Sự tích cây nêu ngày Tết
Ngày xưa, người và quỷ cùng sổng trên mặt đất. Quỷ mạnh hơn, luôn chèn ép người, bắt người trồng trọt và chia phần theo ý của quỷ. Một năm nọ, quỷ giao hẹn “ăn ngọn cho gốc Lúa chín”, quỷ lấy hết thóc lúa, để gốc rạ cho người. Người khóc. Bụt (tiếng ngày trước gọi các vị thần tiên cứu giúp người, thưở đạo Phật mới du nhập vào nước ta, đức Phật cũng được gọi là Bụt) hiện lên chỉ cho người trồng khoai lang. Vụ đó, người lấy củ, quỷ lấy lá. Quỷ tức giận, bèn đòi “ăn gốc cho ngọn ” như trước, người lại theo lời Bụt trồng lúa, cuối mùa gặt lúa, gốc rạ để lại cho quỷ. Năm sau, quỷ đòi “ăn cả gốc lẫn ngọn ”, Bụt chỉ cho người trồng ngô (bắp), cuối vụ bẻ ngô, quỷ chỉ có thân cây.
 (Ảnh: Sự tích cây nêu ngày tết)
    Quỷ tức, phá phách làm người điêu đứng. Bụt lại hiện lên, bảo người chỉ xin một mảnh đất rộng bằng bóng một cái áo, còn lại là của quỷ. Quỷ chấp nhận. Người theo lời Bụt dặn liền dựng một cây tre, Bụt treo áo lên ngọn tre, thành cây nêu. Khi nắng lên, Bụt hóa phép làm cây tre cao lên mãi, càng lúc càng gần mặt trời, bóng cái áo dần dần phủ kín mặt đất. Quỷ chạy xa cái bóng cho đến tận biển Đông. Từ đây đất là của người, quỷ ở biển tức giận, mỗi năm vào dịp Tết lại rủ nhau kéo về phá, nhưng thấy cây nêu là sợ, bỏ đi cho đến hết Tết thì lại phải ra biển. Vì vậy, cứ đến Tết là nhà nhà trồng cây nêu để xua tà đuổi quỷ.
(Ảnh: Đến Tết là nhà nhà trồng cây nêu để xua tà đuổi quỷ)
 Lên nêu
Tại miền Bắc, cây nêu thường được dựng ở đình làng và sân nhà vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch, là ngày Táo quân về trời, với quan niệm rằng từ ngày này cho tới đêm giao thừa, vắng mặt Táo quân, ma quỷ thừa cơ lẻn về quấy nhiễu nên dựng nêu để ngăn và còn dùng vôi vẽ trên đất hình cái cung đang đương một mũi tên hướng ra phía ngoài cổng để đuổi tà ma.
Ở miền Nam, sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có chép rằng: bữa Trừ tịch mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là “lên nêu” có ý nghĩa là để làm tiêu biểu cho năm mới mà tảo trừ những xấu xa trong năm cũ.
Khai hạ (Hạ nêu)
Ngày mùng 7 tháng Giêng là ngày cuối cùng của chuỗi tễ hội Tết. Trong ngày này, người ta làm lễ hạ cây nêu gọi là lễ Khai hạ, kết thúc dịp tết Nguyên đán và bắt đầu bước vào việc làm ăn trong năm mới từ mùng 8 hoặc 9 tháng Giêng.
 (Nguồn: Kiến thức phổ thông)

Sunday, April 17, 2016

Táo quân - Ba vị thần cai quản chuyện đất đai, chuyện nhà cửa, chuyện bếp núc trong gia đình

Táo quân
Táo quân, Táo công, Ông Táo là các cách gọi chung cho ba vị thần cai quản chuyện đất đai, chuyện nhà cửa, chuyện bếp núc trong gia đình. Tại sao là 3 vị chứ không phải ít hay nhiều hơn? Có nhiều cách giải thích, như quan niệm Tam vị nhất thể (ba ngôi hợp một) của đạo giáo, nhưng có giải thích thực tế dễ hiểu hơn rằng từ xưa người ta đã sớm nhận biết là chỉ cần 3 cục kê cao bằng nhau là đủ đặt chắc nồi hay chảo, nói theo toán hình học - thì chỉ qua 3 điểm là đủ tạo nên 1 mặt phng. Sau này người ta đúcg gang làm kiềng gồm 3 chân và một vòng tròn phía trên làm liên kết, rẫt vững (Dù ai nói ngả nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng 3 chân - Ca dao).
Từ 3 chân bếp mà Táo có 3 vị. Do quan niệm có âm có dương, nên 3 vị này có nam và nữ. Nhưng cũng từ quan niệm dương át âm, nên có 2 vị nam (dương) và 1 vị nữ (âm) dù ngày xưa, chuyện bếp núc là đương nhiên phái nữ phải đảm trách.
(Ảnh: Thổ công gồm 2 ông và 1 bà. Tranh dân gian)
Sự tích Táo quân
Ngày xưa, có hai vợ chồng nọ ăn ở với nhau nhiều năm mà chưa có con nên phiền muộn, sinh ra hay cãi cọ. Một hôm người chồng giận quá đánh vợ, người vợ tủi thân bỏ nhà ra đi, một thời gian sau gặp người đàn ông hiền lành khác, bèn đồng ý làm vợ. Người chồng cũ hi hận, quyết chí đi tìm vợ, lâu ngày hết sạch tiền bạc, phải ăn xin để tiếp tục. Ngày nọ đến xin ăn đúng nhà vợ cũ, hai người nhận ra nhau, người vợ ân hận nên mời chồng trước vào nhà đ giãi bầy. Chợt thấy người chồng sau đi làm về, người vợ bảo chồng trước chui vào đống rơm tránh mặt rồi giải thích sau. Người chồng sau không biết, vô tình đốt đống rơm lấy tro bón ruộng. Người chồng trước muốn gi tiếng cho vợ nên không ra và chịu chết cháy. Người vợ từ trong nhà chạy ra, thấy vậy bèn nhảy vào đống rơm cháy để chết theo. Người chồng sau thấy vợ chết, đau xót nhảy vào để cùng chết theo vợ. Hồn của ba người được đưa lên trời, Ngọc hoàng cảm cái nghĩa của họ nên sắc phong cho làm Táo quân, cử xuống trông coi công việc của từng nhà. Người chồng sau làm Thổ công Thn nhà trông coi việc nhà cửa, người chồng trước làm Thổ địa - Thần đất trông coi việc đất đai, người vợ làm Thổ kỳ trông coi việc chợ búa, bếp núc do đã quản xuyến việc nhà của hai người chồng. Ngày 23 thảng Chạp cuối năm, ba vị Táo quân cưỡi cá chép lên thiên đình chầu Ngọc hoàng, báo cáo những việc tốt xấu của gia đình và trần gian.
Cúng Táo quân
Ngày 23 tháng Chạp nhà nhà làm lễ cúng Táo quân lên trời. Lễ cúng thế nào là tuỳ tâm, không bắt buộc như các l cúng khác ngày Tết, nhưng phải có cá chép để các vị Táo quân cưỡi từ hạ giới lên thiên đình. Cá chép có thể làm bằng giấy, hay treo tranh dân gian Lý ngư (Cá chép), hoặc thả cá chép xuống sông ngòi ao hồ, cá chép lớn nhỏ gì cũng được mà cá chép cảnh màu đỏ, vàng cũng được. Ngày tiễn ông Táo còn gọi là Tết ông Công. Ông Táo lên trời báo cáo vơi Ngọc Hoàng chuyện trong nhà và hạ giới. Lúc v thường là Giao thừa, nhưng cũng có thể muộn hơn do công việc trên Thiên đình nhiều hay ít, Táo Công nhà nào về lúc nào, người phàm không biết được.

Ngày cúng Ông Táo đi mở đầu cho Tet Nguyên đán. Vào ngày này, các nhà trồng cây nêu.
(Nguồn: Kiến thức phổ thông)

Một số tên gọi trong dịp Tết Nguyên Đán


- Táo quân, Táo công, Ông Táo. Táo là bếp, Quân là vua, Công là ngài, Táo quân là Vua bếp. 23 tháng Chạp cúng Ông Táo, Tết bắt đầu. Ông Táo là cách gọi kết họp tiếng thuần Việt (Ông) và Hán-Việt (Táo).  
(Ảnh: Ông táo)
  
- Tất niên. Tất là cuối cùng, niên là năm. Tất niên là gọi tắt của “Ngày tất niên”, ngày cuối cùng của năm.
- Trừ tịch. Trừ là bỏ, tịch là đêm. Trừ tịch là Đêm cuối cùng của năm, còn gọi là đêm Giao thừa, vì đến nửa đêm hết Trừ tịch là Giao thừa.
- Giao thừa. Giao là chuyển qua, thừa là tiếp nối. Giao thừa là thời khắc chuyển từ hết ngày cuối năm này sang ngày đầu năm tiếp theo, diễn ra vào giờ Tý (23-01 giờ), cũng là lúc năm cũ chuyên giao năm mới. Giao thừa của Dương lịch vào lúc 12 giờ đêm (0 giờ sáng) ngày đầu năm 1/1, tức giờ Chính Tý (giữa giờ Tý) của Âm lịch.
- Mùng (mồng). Mùng là những ngày từ 1 đến 10. Ngày đầu năm là mùng 1 Tết, các ngày tiếp theo là các mùng 2, 3, 4, 5...Tết, cho đến hết mùng 10. Từ ngày 11 trở đi đến hết tháng thì không gọi là mùng nữa mà gọi là ngày, không kèm chữ Tết nữa mà thay bằng tháng Giêng: Mùng 1 Tết, ngày 11 tháng Giêng. Cách gọi như trên cũng dùng cho các tháng khác, chỉ thay tên cho đúng tháng.
- Lên nêu. Trồng cây nêu, vào Tết.
(Ảnh: Cây Nêu)

 - Khai hạ. Khai là bỏ (ngược với Khai là mở ra), hạ là cho xuống. Mùng 7 Tất hạ cây nêu, báo Tết đã qua, trở lại làm việc.
(Nguồn: Kiến thức phổ thông)

Ý nghĩa tâm linh trong tết Nguyên Đán


Lịch cổ truyền của ta - vẫn được gọi là Âm lịch để phân biệt với Dương lịch - chia khí hậu trong năm làm 24 thì, sau đọc là thời, đầu mỗi thời là 1 tiết (đốt, như gọi đốt của cây tre), rồi đọc ra thành “tết”. Một năm có 24 tết (tiết), như tết Nguyên đán, tết Hàn thực, tết Thanh minh, tết Đoan ngọ, tết Trung thu, tết Trùng cửu...
(Ảnh: Tết Nguyên Đán)

Tại sao chúng ta gọi là Tết Nguyên đán? Theo tiếng Hán-Việt, Nguyên là bắt đầu, khởi thuỷ; Đán là sáng sớm. Nguyên đán là buổi sớm đầu tiên của ngày đầu tiên của tháng đầu tiên của năm. So với 23 tết khác trong năm, thì Nguyên đán mở đầu một năm (tính theo Ầm lịch) nên quan trọng nhất, lớn nhất và còn được gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết cổ truyền, Tết Việt Nam hay chỉ đơn giản chỉ gọi Tết là đủ.
Tết Nguyên đán năm nào thì gọi theo tên năm đó, kết hợp cả năm ta và năm tây: Tết Quý Tỵ 2013, Tết Giáp Ngọ 2014, Tết Ất Mùi 2015, Tết Bính Thân 2016... Vì sự chênh nhau về ngày tháng năm giữa Dượng lịch và Âm lịch, nên ngày đầu năm Âm lịch của Tết Nguyên đán rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch, cứ 2 hoặc 3 năm thì có một năm vào tháng 1, còn lại là tháng 2, nhưng không bao giờ trước ngày 21/1 và sau ngày 19/2.
Tên của tháng Âm lịch gọi theo can chi, như Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân.. . Trong dân gian còn có cách gọi riêng rất phổ biến nhưng hơi phức tạp. Tháng đầu năm gọi là tháng Giêng, rồi đến các tháng 2, 3 gọi theo số, tháng 4 gọi là tháng Tư, các tháng 5, 6, 7, 8, 9, 10 lại gọi theo số, tháng 11 gọi là tháng Một, tháng cuối năm là tháng Chạp. Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài ừong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đâu năm mới, tức là từ 23 tháng Chạp đến hêt ngày 7 tháng Giêng.
(Nguồn: Kiến thức phổ thông)